XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ HIỆN NAY

   Từ công nghệ mới, các tư liệu đo đạc và bản đồ kinh điển đã được hoàn thành. Cụ thể bao gồm Hệ quy chiếu quốc gia, lưới tọa độ cơ bản của Nhà nước từ cấp "0" tới cấp III phủ trùm cả nước, lưới độ cao nhà nước chuẩn hóa, hệ thống ảnh hàng không - vệ tinh phủ trùm cả nước, bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 phủ trùm cả nước và các tỷ lệ lớn hơn phủ trùm các vùng kinh tế có đặc thù riêng. Trong thời gian hiện tại và vài năm tiếp theo, nhiệm vụ chính của ngành là xây dựng hệ thống bản đồ tỷ lệ 1/250.000 phủ trùm toàn vùng biển, tỷ lệ 1/50.000 phủ trùm vùng thềm lục địa, tỷ lệ 1/10.000 phủ trùm đất liền cả nước, bản đồ 1/2000 phủ trùm các đô thị, bản đồ địa chính các tỷ lệ phù hợp để quản lý đất đai, đo đạc và bản đồ chuyên đề phục vụ quản lý hiện đại cho các ngành như quân sự, nông nghiệp, rừng, đô thị, giao thông, thủy lợi, v.v. và giải quyết tốt công tác đo đạc và bản đồ phục vụ hoạch định, phân giới, cắm mốc biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển. Song song với nhiệm vụ xây dựng hệ thống dữ liệu cơ bản, hệ thống cập nhật dữ liệu cũng đang được từng bước xây dựng và vận hành.

   Trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ đo đạc và bản đồ đang chuyển sang một giai đoạn mới trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học và công nghệ nói chung và trên cơ sở những yêu cầu mới về phát triển bền vững của toàn hành tinh, khu vực và từng quốc gia. Về thành tựu khoa học và công nghệ nói chung, những bước phát triển rất nhanh của công nghệ thông tin và công nghệ hàng không - vũ trụ đã tạo nên những hướng đi mới của khoa học và công nghệ đo đạc và bản đồ. Thứ nhất, kỹ thuật khảo sát trái đất từ vệ tinh, máy bay và các phương tiện bay khác ở nhiều tầng độ cao khác nhau, với nhiều loại tia phát khá nhau đã tạo được những thành tựu vượt bậc về độ chi tiết, độ chính xác dữ liệu và khả năng thu nhận nhanh dữ liệu. Độ chính xác tọa độ có thể đạt tới cỡ mi-li-mét, độ chính xác độ cao mặt đất cũng như mặt biển có thể đạt tới cỡ xen-ti-mét, độ phân giải ảnh chụp có thể đạt cỡ đề-xi-mét với nhiều phổ khác nhau. Bên cạnh đó, thiết bị đo đạc mặt đất cũng đã có những thay đổi quan trọng, từ những thiết bị đo đạc bằng tia đơn đã bắt đầu chuyển sang các thiết bị quét mặt đất. Từ những thành tựu khoa hoạc và công nghệ như vậy, khả năng thiết lập mô hình bề mặt đất đầy đủ, chi tiết, chính xác, kịp thời bảo đảm khả năng tác động trên đó như tác động trên thực tế đã trở nên hoàn toàn khả thi. Đồng thời, khả năng hình thành một mô hình toàn cầu của hành tinh trái đất cũng đang trong tầm tay của con người.

   Trong thời gian trước đây không xa, đo đạc còn như một khái niệm rất chuyên ngành và xa lạ với đời sống thực tế, bản đồ cũng chỉ được dùng cho chuyên ngành hay để trình bầy vấn đề cho dễ hiểu. Đến nay, những khái niệm này đã trở nên phổ cập hơn, thông tin đo đạc và bản đồ đã trở nên cần thiết hơn cho mọi người. Chúng ta đều biết rằng, Công ty Google đã tạo được bước phát triển quan trọng kể từ khi tạo được dữ liệu địa lý toàn cầu dưới dạng Google Earth và Google Map, cho phép mọi người khai thác và gắn vào đó những thông tin riêng của mình. Để ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu, các quốc gia đã đưa ra chương trình "Planet Action" dựa trên nền tảng đầu tiên là xây dựng và phổ cập dữ liệu địa lý toàn cầu phục vụ giám sát tình trạng bề mặt đất do tác động của biến đổi khí hậu. Từ đó, mỗi người có thể là một mắt lưới của hệ thống giám sát biến đổi khí hậu toàn cầu.

  Cũng trong thời gian trước đây không xa, con người xây dựng cho mình một quan niệm tĩnh, trái đất cũng là một thực thể tĩnh, nơi làm việc cũng tĩnh, các động tử chuyển động chỉ là tạm thời. Từ đó, đo đạc và bản đồ cũng chỉ đảm nhận công việc trong quan niệm tĩnh, ít khả năng mô tả các trạng thái động. Đến nay, con người đã chuyển sang chấp nhận thông tin trong trạng thái động, từ đó khái niệm công nghệ "Mobile" đã ra đời. Công nghệ đo đạc và bản đồ đã chuyển theo 2 hướng: một là bảo đảm dữ liệu sao cho người di động cũng có thể sử dụng được (Geo-Mobile technology); hai là tạo được khả năng đo đạc, mô tả, thể hiện các đối tượng động (Geo-Dynamics technology).            

   Hiện nay, sự cố gắng của cả thế giới là hình thành một mô hình trái đất thực thật đầy đủ, chi tiết, chính xác để con người nhìn vào mô hình có thể biết được thực tế như thế nào. Mô hình đó chính là hạ tầng thông tin địa lý toàn cầu (GSDI - Global Spatial Data Infrastructure). Con người nhận thức và tác động vào hành tinh thông qua mô hình này. Nhất là hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu, bảo vệ hành tinh đang trở thành trọng tâm của cả nhân loại. Mô hình GSDI đang được đánh giá là công cụ duy nhất để giám sát mọi hoạt động trên hành tinh, dự báo các thảm họa thiên nhiên để phòng tránh và chống đỡ, liên kết giữa mọi người để phối hợp hành động. Tất nhiên, một mô hình GSDI phải được hình thành trên cơ sở kết nối các cơ sở dữ liệu đối với từng quốc gia hay vùng lãnh thổ với tên gọi là hạ tầng thông tin địa lý quốc gia (NSDI - National Spatial Data Infrastructure). Để thành lập các NSDI, các quốc gia cần đưa ra chương trình chuẩn hóa dữ liệu đo đạc và bản đồ đã có theo chuẩn quốc tế, lựa chọn các công nghệ để xây dựng hệ thống đo đạc thu nhận dữ liệu ở nhiều tầng khác nhau phục vụ bổ sung và cập nhật dữ liệu cho toàn bộ hệ thống. Điểm quan trọng là các quốc gia cần hình thành các chính sách phù hợp để xã hội hóa quá trình đầu tư công nghệ, dựa vào khả năng của các doanh nghiệp để xây dựng dữ liệu.

Mô hình NSDI ở đây không chỉ đơn giản là một mô hình mặt đất thực của mỗi quốc gia ở dạng tĩnh, mà phải đáp ứng được yêu cầu phục vụ người sử dụng di động cũng như yêu cầu của mô hình một mặt đất thực đang hoạt động. Như vậy có thể nói, khoa học và công nghệ đo đạc và bản đồ đã chuyển sang thể hệ thế hệ 4 chiều, hay nói cách khác là có sự tham gia của chiều thời gian. Hệ quy chiếu tọa độ thế giới hiện nay cũng đã chuyển sang một hệ quy chiếu ở trạng thái động (ITRF), điểm tọa độ trắc địa được mô tả bằng 6 thành phần gồm tọa độ và tốc độ dịch chuyển tọa độ, hệ thống thông tin địa lý cũng chuyển sang khái niệm động với sự tham gia của thời gian, v.v. Sự tham gia của yếu tố thời gian giúp con người giám sát rất hiệu quả các hoạt động của vỏ trái đất, tình hình tai biến thiên nhiên và tình trạng môi trường. Đồng thời, sự tham gia của thời gian cũng giúp cho con người quản lý tốt các hoạt động chuyển động của con người như giao thông, vận tải, dịch vụ gắn với chuyển động.    

    Trong những năm vừa qua, tư liệu đo đạc và bản đồ nước ta đã khẳng định được vai trò không thể thiếu được trong quản lý, mang lại hữu ích cho các doanh nghiệp và cho mọi người. Các doanh nghiệp đã thấy được việc sử dụng tư liệu đo đạc và bản đồ sẽ mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn. Nhu cầu của thị trường ngày một lớn. Từ nhu cầu quản lý nhà nước, Chính phủ đã quyết định đầu tư khá lớn từ ngân sách nhà nước cho công tác đo đạc và bản đồ. Tất cả những tư liệu hiện có về đo đạc và bản đồ nước ta đã đủ điều kiện để gom thành một hạ tầng thông tin địa lý quốc gia NSDI. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cơ quan đo đạc và bản đồ làm việc cho các Bộ, ngành cũng như các địa phương. Để xây dựng khối tư liệu đo đạc và bản đồ đang tản mát hiện nay để trở thành một NSDI, chúng ta có rất nhiều việc phải làm. Trước hết cần phải tiếp tục thực hiện đổi mới công nghệ để xây dựng hệ thống theo quan điểm động. Sau đó là chuẩn hóa được tất cả các loại dữ liệu đã có và các dữ liệu sẽ làm. Cuối cùng là tổ chức hệ thống thông tin dưới dạng phân tán, thông tin mở, để đáp ứng mọi nhu cầu của người dùng. Việc lựa chọn các thiết bị phù hợp là một hệ quả đương nhiên phải xem xét.

   Trong thời gian vài năm tới, nhiệm vụ về đo đạc và bản đồ còn nhiều hơn những năm tháng trước đây. Vấn đề là cân nhắc sau cho xã hội hóa cao hơn các hoạt động đo đạc và bản đồ, đầu tư từ ngân sách nhà nước phải đủ ở mức cần thiết nhưng không được lãng phí, sự phối hợp để xác định nhu cầu quản lý của các Bộ, ngành và đại phương phải thấu đáo để một sản phẩm đo đạc và bản đồ phải đạt tiêu chuẩn đa mục tiêu. Ví dụ, bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 phải làm theo công nghệ gì để vừa là bản đồ cơ bản nhưng phải đáp ứng được nhu cầu quản lý rừng của lâm nghiệp, quản lý môi trường đất của địa phương, đánh giá mùa vụ của nông nghiệp, v.v. Hoặc như bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2.000 đô thị không chỉ là địa hình mà phải đủ thông tin để quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, giám sát ô nhiễm môi trường đô thị, quản lý kiến trúc đô thị v.v. Những yêu cầu này cần được cân nhắc kỹ lưỡng.    

[Quay Lại]


Các tin khác